"Bán thầu" đang được hợp pháp hóa và nở rộ?
May 4, 2009 by hungsika
Filed under Thời sự xây dựng

Lần đầu tiên trước đại diện lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo Bộ Xây dựng và đông đảo giới, ngành – PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp, Phó Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM hé lộ nhiều nhận định tổng kết từ thực tế về cảnh “mua – bán” đang nở rộ trong ngành xây dựng hiện nay…
Theo lãnh đạo sở này, việc đấu thầu đang rất “hình thức” tại nhiều nơi, vấn đề “bán thầu” được pháp luật qui thành tội danh nhưng rồi cũng chính pháp luật lại tạo điều kiện cho nó được “ngụy trang” dưới hình thức khác… đang là những “hạt sạn” dẫn đến chất lượng nhiều công trình xây dựng hiện nay rất lắm vấn đề, sự cố dễ xảy ra, an sinh cho người lao động không đảm bảo…
Không phải “bán thầu” thì là cái gì?
Phó Giám đốc Nguyễn Văn Hiệp cho biết, Luật Hình sự qui định tội danh “bán thầu”, nhưng trong hoạt động xây dựng hiện nay lại có thầu chính, thầu phụ, thậm chí nhiều bậc thầu phụ… Đã vậy, Luật Đấu thầu lại định nghĩa “nhà thầu chính” khác với định nghĩa của Luật Xây dựng.
“Luật Đấu thầu không bắt buộc nhà thầu chính phải thực hiện phần việc chính như Luật Xây dựng, nghĩa là cho phép nhà thầu chính chuyển hầu hết các công tác thực hiện (kể cả công tác phức tạp nhất) cho các thầu phụ ngay sau khi ký hợp đồng! Các thầu phụ này sau đó lại khoán việc đến các nhà thầu thứ cấp tiếp theo, và khi đến người thực hiện trực tiếp – giá trị nhận việc đã bị giảm thấp đáng kể. Lợi đã được các tầng nấc trung gian hưởng trước khá nhiều” – lãnh đạo Sở Xây dựng TP.HCM khẳng định.
Vì những lý do đó – theo chính “người trong nhà” ngành xây dựng, thuế thu nhập doanh nghiệp thất thu rất lớn (vì khoán hầu hết mà không theo hợp đồng giao việc cụ thể, không đăng ký thuế…); quá trình thực hiện không được pháp luật chi phối nên chủ đầu tư nhiều khi thấy sự cố, vấn đề nảy sinh trước mắt vẫn dửng dưng… dẫn đến: chất lượng xây dựng không cao; thiết bị sử dụng cũ, hết hạn, kém an toàn; người lao động chỉ được đảm bảo an toàn ở mức tối thiểu; biện pháp thi công sơ sài, ít tốn kém, dễ xảy ra sự cố.
Cũng theo sở này, công trình xây dựng lẽ ra phải có đặc thù là không chấp nhận phế phẩm, thứ phẩm. Nhưng, cũng chính các qui định hiện hành lại đặt ra: chất lượng nếu không thể nghiệm thu (tức là thứ phẩm) thì vẫn cho phép nhà thầu sửa chữa!? Sửa không đạt lắm, rồi cũng nghiệm thu! Mà đã nghiệm thu là phải thanh toán đủ giá trị hợp đồng.
PGS.TS Hiệp khẳng khái: “Nếu không làm rõ nội dung bán thầu, thực tế đang cho thấy nhiều bất cập ngay tại các Tổng Công ty, Công ty lớn, uy tín – thắng thầu, sau đó ủy quyền ngay việc thực hiện hợp đồng hay khoán lại cho các công ty thành viên, xí nghiệp, đội của mình… Thường thì mỗi lần như vậy, đơn vị đứng tên hợp đồng sẽ giữ lại một tỉ lệ % (phần trăm) thỏa thuận. Mà khi chỉ đứng tên, quản lý thì tất trách nhiệm không cao”.
Đấu thầu chỉ là hình thức!?
Đại diện Sở Xây dựng TP.HCM đã đặt dấu hỏi trước thực trạng một tỉ lệ khá lớn các công trình xây dựng ở địa phương, đầu tư bằng vốn ngân sách có chất lượng yếu hơn hẳn so với những công trình đầu tư từ nguồn vốn khác, nhất là vốn tư nhân.
“Tìm hiểu kỹ được biết, hầu hết các dự án vốn không cao, được chỉ định thầu cả tư vấn, rồi xây lắp và chỉ một số nhà thầu “quen biết” nhận được (không loại trừ đó là những sân sau của chủ đầu tư)! Điều này dẫn đến tiến độ có trễ cũng không dám phạt, chất lượng có kém cũng cố mà bảo vệ cho nhau… – đó là sự thật!” – lãnh đạo sở này khẳng định.
Ông Hiệp cũng cho biết thêm, kể cả những hợp đồng thực hiện qui hoạch chi tiết 1/2000 mà chủ trương đang đòi hỏi phủ kín – cũng không ngoại lệ! Bản thân đơn vị tư vấn qui hoạch được chỉ định thầu cũng bị lợi dụng để giao việc tập trung cho chỉ một vài tổ chức, đơn vị “khuất đằng sau”. Thế nên, chất lượng không cao, tiến độ có chậm cũng là điều không quá khó hiểu!
Theo Sở Xây dựng TP.HCM, hiện những công trình vốn lớn phải đấu thầu thường số lượng nhà thầu tham dự rất ít, hầu như không quá 5! Và, trong số đó, có những nhà thầu hình như chuyên sinh ra chỉ để đấu thầu dự án vốn ngân sách, xuất hiện với mật độ dày đặc ở nhiều dự án tại một vài quận, huyện. Giá trị tiết giảm qua đấu thầu rộng rãi trong cả nước, tại TP.HCM cũng không ngoại lệ (chỉ dưới 3%).
Những điều kể trên, theo lãnh đạo Sở Xây dựng TP.HCM – nói lên thực trạng: Đấu thầu chỉ là hình thức. Cách thanh toán trong những công trình vốn ngân sách phức tạp, chậm, giá không cao lại phải “quen” mới tham gia được nên Luật Đấu thầu chưa “đi” được vào nhiều dự án xây dựng trong giai đoạn này…
Hơn nữa, “chất lượng công trình trung bình, kém vẫn tìm cách nghiệm thu – khi chủ sử dụng than phiền, công trình xuống cấp ngay khi hết hạn bảo hành (thường là 1, 2 năm đối với công trình công cộng) thì kinh phí nhà nước lại tiếp tục rót vào những Báo cáo kinh tế – kỹ thuật để sửa chữa, nâng cấp, cải tạo… thật quá lãng phí!” – PGS.TS Hiệp “bật mí”.
Phó Giám đốc Sở này thừa nhận: Tại TP.HCM, nhiều công trình lún, sửa chữa nhiều lần rồi cố gắng nghiệm thu; nhiều km đường đào trong năm 2008 nhìn lại thấy rõ con đường đã bàn giao, đưa vào sử dụng không đạt độ phẳng qui định, lồi lõm quá lớn, thậm chí dễ “bẫy” người đi đường… nhưng rồi cũng đã nghiệm thu, thanh toán đủ!
“Chủ đầu tư đã quá dễ dãi khi quản lý đồng tiền ngân sách xây dựng công trình. Tư vấn giám sát cũng bỏ qua lương tâm nghề nghiệp khi thực hiện trách nhiệm được giao. Và chúng ta cùng đang phải chấp nhận xài những đồ thứ phẩm ngay từ đầu!” – đại diện Sở Xây dựng TP.HCM nêu ý kiến.
Theo Vietnamnet
Cần nhận thức lại chiến lược đô thị
May 3, 2009 by hungsika
Filed under Thời sự xây dựng

Chúng ta dường như có cơ hội cải thiện cuộc sống, chỉnh trang, nâng cấp hệ thống đô thị đã có, từng bước xây dựng các đô thị mới, ngõ hầu kiến tạo bộ mặt đô thị Việt Nam, dân tộc và hiện đại, xứng tầm với máu xương đã đổ và đáp ứng khát vọng vươn lên, ngang tầm thời đại như nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, thực hiện di chúc thiêng liêng: “Xây dựng lại Đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Vấn nạn chưa có lối thoát
Khu chung cư Trung Hòa – Nhân Chính mới được xây dựng ở Hà Nội – Ảnh: TTXVN
Không mất nhiều thời gian, nguồn vốn nước ngoài ồ ạt tuôn vào, nhiều đô thị không kịp lập quy hoạch, các cao ốc do nước ngoài đầu tư sừng sững mọc lên trên các nẻo đường Hà Nội, TP.HCM, Bình Dương, Đà Nẵng v.v… và nhiều đô thị khác. Tưởng như mơ ước: “Đường ta rộng thênh thang tám thước…” (Thơ Tố Hữu) sắp hiện ra trong tầm mắt.
Khu chế xuất Tân Thuận mở đầu một hướng đi. Cho thuê đất, xây dựng các khu công nghiệp, hệ thống ngân hàng, hệ thống siêu thị, chung cư cao cấp v.v… bằng vốn nước ngoài có thể được xem như một giải pháp ưu tiên, miễn là nhà đầu tư đẹp lòng, đẹp ý. Mãi gần đây, khi “đại dịch sân golf” – tưởng như một chỉ báo về đô thị hiện đại, sắp sửa ngang bằng với các quốc gia khác – nhiều người mới giật mình rằng đất đai vốn không phải là vô hạn.
“Đất của ta – Nhà của khách”. Hình khối kiến trúc của các cao ốc do nước ngoài thiết kế, đầu tư, chen nhau lèn chặt, phủ bóng xuống các khu trung tâm vốn có từ nhiều đời. Cũng nhiều người ngộ ra lẽ được mất mà thấy rằng, chúng ta có thể còn nhiều cách khác. Thử hình dung, nếu quy hoạch đón được thời cơ, bộ mặt kiến trúc đô thị được nghiên cứu, thiết kế cẩn trọng, các cao ốc trên được bố cục một cách hợp lý, thì bộ mặt đô thị Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có thể khác hơn không?
Còn người Việt xây dựng đô thị ra sao?
Đường Kim Liên – Ô Chợ Dừa ở Hà Nội được đánh giá là “con đường đắt nhất hành tinh!”. Gần 4km đường Nguyễn Hữu Cảnh và cầu Văn Thánh TP.HCM lún lên sụt xuống. Tiền của, ngân sách cứ thế tiếp tục đổ vào trong những năm qua, mãi chưa thấy đáy. Cầu Rạch Miễu, chiếc cầu dây văng đồ sộ, với niềm tự hào cây cầu lớn đầu tiên do người Việt thiết kế và thi công, vừa thông xe đã ách tắc do mặt cầu chỉ có 12m, quá hẹp so với lưu lượng phương tiện.
Cầu Thủ Thiêm ở TP.HCM, cầu Thanh Trì ở Hà Nội, cầu xong nhưng đường dẫn chưa làm. Tiền đền bù cho 1.000m2 đất bị giải tỏa chưa đủ để mua lại 100m2, còn tiền dựng nhà không biết kiếm đâu ra và bao giờ kiếm được. Vậy muốn thông xe toàn tuyến phải chờ đến khi thương lượng, giải tỏa xong mặt bằng.
TP.HCM đang vào chiến dịch xây dựng hệ thống thoát nước, lát hè, hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng đã được đổ ra, nhưng chắc chắn nhiều đoạn sẽ phải đào lên để “ngầm hóa” lưới cáp viễn thông và lưới điện vì đường phố đã không còn chịu nổi một mạng nhện chằng chịt các đường truyền dẫn. Ách tắc giao thông nghiêm trọng và chưa nhìn thấy lối thoát ở cuối đường hầm.
Sớm nhất, năm 2014, Hà Nội mới có tuyến tàu điện ngầm đầu tiên, còn đường sắt cao tốc Bắc – Nam, xin chờ 27 năm nữa (năm 2036)! Xe buýt tự nhiên trở thành “hung thần đường phố”! Trong khi chưa tìm ra giải pháp thì chúng ta vội vã hạn chế xe thô sơ và hàng rong. Dù thân phận có lúc thấp hèn nhưng nếu họ đồng loạt “biến mất”, liệu thành phố có thể hoạt động bình thường? Ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ngập úng tràn lan, thường xuyên, diện ngập toàn thành ở Hà Nội và TP.HCM là những vấn nạn chưa có lối thoát.
Ở Hà Nội, một loạt công trình ngẫu hứng muốn được gá lắp vào khu trung tâm làm dân chúng lo âu: Tòa nhà EVN bên bờ hồ Gươm, một siêu thị khăng khăng đòi xây dựng trên mảnh đất thiêng đang lưu giữ hài cốt các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong ngày Toàn quốc kháng chiến, một khách sạn dứt khoát đòi xén bớt công viên Thống Nhất vì một hợp đồng đã ký cách đây hai mươi năm, dù nhà đầu tư nội địa ấy quá biết thành phố đang rất thiếu cây xanh và các khu vui chơi cho em nhỏ, người già.
Và cũng bất chấp dư luận, một tuyến cáp treo băng ngang vịnh Nha Trang dù có cản trở luồng tuyến ra vào của cảng tàu du lịch trên vịnh biển vào hàng đẹp nhất thế giới. Để kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, hàng loạt di tích kiến trúc cổ được hạ giải, đập đi làm mới. Một nhà máy Hyundai gây ô nhiễm môi trường diện rộng. Chỉ một nhà máy Vedan đủ làm chết một con sông. Vị trí và vai trò của “quy hoạch được duyệt” không có nhiều trọng lượng trong trường hợp có tranh chấp. Biết bao nhiêu đồ án quy hoạch đô thị vẽ xong, trình duyệt để rồi… xếp lại như quy hoạch thành phố Chân Mây, Bắc đèo Hải Vân! Và nhiều chuyện không thể kể hết về thực trạng xây dựng và quản lý đô thị ở nước ta.
Chỉ có lợi cho nhà quy hoạch
Người Việt Nam có vẻ như đầy khát vọng cấp tập đô thị hóa bằng mọi giá. Tư duy tiểu nông, chỉ thấy lợi trước mắt, tác phong tùy tiện, chưa thể rũ bỏ thói quen ứng xử thời chiến, chính sách thay đổi liên tục, ít ai dám nghĩ chuyện đường dài. Tư duy chiến lược thường được coi là hoang tưởng. Tính hai mặt của đồng tiền bắt đầu lộ diện. Chúng ta làm mọi thứ để sớm có thành phố hiện đại nhưng quên mất xây nhà cho dân.
Ba mươi tư năm sau ngày đất nước thống nhất, Bộ Xây dựng mới sực tỉnh, người dân đô thị cũng cần có nhà! Và một kế hoạch xây nhà cho người có thu nhập thấp nhanh chóng được soạn thảo, trình duyệt. Những con số tròn trĩnh, hấp dẫn, nhưng để chính sách đi được vào đời sống còn bao nhiêu vấn đề kinh tế – kỹ thuật và văn hóa – xã hội phải tính toán, cân đong. Ngoài chức năng kinh doanh, Bộ Xây dựng còn một trách nhiệm xã hội rất nặng khi để nhiều người nghèo đô thị không có nổi một mái nhà che nắng, trú mưa.
“Luật Quy hoạch đô thị” được dự thảo lấy ý kiến rộng rãi chuẩn bị trình Quốc hội kỳ tháng 5 này. Khi đại biểu Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt câu hỏi: “Bản sắc đô thị Việt Nam là gì?”. Ông Bộ trưởng Bộ Xây dựng hồn nhiên trả lời: “Cái này thì chịu!”.
Tiếc thay, có lẽ trừ những người biên soạn, không một ai thỏa mãn, vì chất lượng văn bản và nội dung mà nó mang tải. Toàn bộ dự luật chỉ nhằm quy định một hành lang pháp lý có lợi cho những người lập quy hoạch. Vai trò của người dân, đối tượng thụ hưởng thành quả của các nhà soạn thảo gần như được cho đứng ngoài. Việc người dân bị gạt ra bên lề quá trình xây dựng và phát triển đô thị đang là một vấn đề thời sự nóng bỏng trong vụ vườn hoa Con Voi ở khu Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội. Chủ trương dân chủ đến cơ sở bao giờ mới được thực thi?
Sự bất cập của công tác quy hoạch đô thị đang hình thành hai cách nhìn đối lập. Từ phía nhà cầm quyền: “Ý chí và quyền lực của lãnh đạo”. Về phía người dân: “Quy hoạch là một hiểm họa” chưa biết sẽ rơi xuống đầu ai và bao giờ?! Miếng đất, ngôi nhà anh đang ở, bỗng một ngày, có nhà đầu tư để mắt đến! Thì ôi thôi rồi! Chủ trương giải tỏa, đền bù để người dân đến nơi ở mới phải tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ là một chủ trương đầy tính nhân văn, nhưng khi thực hiện lại là một quá trình ngã giá, cò kè bớt một thêm hai. Mức chênh lệch giữa giá nhà nước và giá thị trường là một bài toán làm đau đầu cả hai bên.
Không nên giao cho Bộ Xây dựng vai trò quy hoạch
Nếu quy hoạch làm sai, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?
Ai thẩm định quy hoạch những thành phố lớn trực thuộc Trung ương do Bộ Xây dựng nghiên cứu, đệ trình?
Quy hoạch thủ đô thuê tư vấn nước ngoài, liệu Bộ Xây dựng có đủ sức thẩm định, tư vấn cho Thủ tướng? Nếu thẩm định được, sao không làm để tiết kiệm ngân sách? Nếu thuê nước ngoài thẩm định thì chuyên gia thẩm định căn cứ hệ tiêu chí nào? Ai đề xuất hệ tiêu chí đó? Ai thẩm định hệ tiêu chí đó? Ai chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định nếu kết quả đó sai? Không lẽ mọi việc lại vẫn dồn lên vai Thủ tướng? Vậy thành lập bộ chuyên ngành để làm gì?
Tiêu chuẩn nào cho việc lựa chọn kiến trúc sư trưởng? Quyền hạn và trách nhiệm kiến trúc sư trưởng? Liệu có cản trở, mâu thuẫn với quyền lực của thị trưởng khi chính quyền đô thị được xác lập? Hội đồng Tư vấn địa phương gồm những ai? Có đủ người để làm việc đó? Không quá khó để nhận biết một bộ luật sơ lược, khô cứng được rút ra từ những giáo điều từ lâu đã không còn sức sống, xa lạ với thực tiễn xây dựng và quản lý đô thị vô cùng phong phú và phức tạp, chưa có tiền lệ, chưa có giáo trình của xã hội Việt Nam.
Tóm lại, hơn nửa thế kỷ đã đi qua, ngành xây dựng Việt Nam từ hai bàn tay trắng đã từng bước xây dựng được một lực lượng chuyên ngành quy hoạch đô thị và phác thảo những nét tổng quát nhất cho một lĩnh vực chuyên môn trọng yếu, có vị trí và vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước này. Nhưng dù sao cũng chỉ là bước khởi đầu. Nên chăng một tổng kết có tầm quốc gia về ba mươi năm quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị, tác động nhiều chiều của quá trình đô thị hóa?
Lịch sử đã sang trang. Chiến lược đô thị hóa đất nước đang cần được nhận thức lại. Quy hoạch đô thị không còn thuần túy là việc xây dựng cơ sở vật chất, nhiệm vụ của riêng ngành xây dựng cơ bản.
Xây dựng đô thị, xây dựng hệ thống đô thị, vùng ảnh hưởng đô thị, giải pháp kết nối và bảo vệ đô thị… thực chất là xây dựng đồng thời một xã hội đô thị văn minh, hiện đại, tương ứng với hệ thống cơ sở vật chất cần có. Sự nghiệp đó, một mình Bộ Xây dựng không thể gánh vác.
Việc duy trì lực lượng quy hoạch hiện nay như một công cụ chỉ để làm đầu mối, tham mưu, giúp Bộ Xây dựng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về quy hoạch và quản lý đô thị là một lãng phí lớn. Tham gia công cuộc xây dựng đô thị, ngoài Bộ Xây dựng, còn nhiều bộ, ngành khác đang cùng chung lưng gánh vác. Bộ Giao thông – Vận tải trong hệ thống cầu đường đô thị, Bộ Tài nguyên – Môi trường trong quản lý môi trường và đất đai, chính quyền các cấp đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện…
Quy hoạch nông thôn, địa bàn cư trú rộng lớn của 70% dân số Việt Nam, có vai trò trọng yếu trong chiến lược “tam nông” bị bỏ quên quá lâu, không ai được giao trách nhiệm rõ ràng. Việc tổ chức lại công tác quy hoạch đô thị và nông thôn đang đặt ra những yêu cầu rất cấp bách, vượt ra ngoài khả năng quán xuyến hiện thời của Bộ Xây dựng.
Trách nhiệm đảm nhận trước dân, trước Đảng, sự nghiệp to lớn và khó khăn này đòi hỏi hình thành một bộ mới, xem việc xây dựng hệ thống đô thị của nước ta không chỉ là việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng mà là xây dựng một xã hội đô thị và nông thôn Việt Nam dân tộc – hiện đại – văn minh.
Việc tổ chức môi trường sống cho 86 triệu người dân, và còn hơn thế trong tương lai không xa, là một sự nghiệp trọng đại, là mục tiêu lý tưởng của cả Đất nước, của cả Dân tộc. Việc cải tiến bộ máy cho tương thích với tình hình, nhiệm vụ, là một việc thường xuyên, cần một quyết tâm chính trị trong sáng và kiên định.
Một BỘ “QUẢN LÝ – PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ và MÔI TRƯỜNG” cần được xem xét và nếu hợp lý, nên sớm được hình thành.
Theo KTS NGUYỄN TRỌNG HUẤN
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Ba vấn đề lớn của quy hoạch đô thị
April 27, 2009 by admin
Filed under Thời sự xây dựng

Quy hoạch đô thị là một phạm trù văn hóa rộng với con người là trung tâm. Bản sắc văn hóa trong xây dựng đô thị là mục tiêu, còn các tiến bộ khoa học – kỹ thuật học được từ thế giới – dù rất quan trọng – cũng chỉ có ý nghĩa phương tiện.
Học tập những tiến bộ kỹ thuật của các nền văn minh là một công việc phải làm, nhưng sống trong những đô thị hiện đại của Việt Nam vẫn là những người Việt Nam, có nguồn gốc văn hiến lâu đời và một nền văn minh đậm đà bản sắc.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công trong quá trình hội nhập, nhưng bản sắc dân tộc vẫn được bảo tồn. Còn những nhà hoạch định quy hoạch đô thị của nước ta đã thực hiện công việc của mình ra sao?
Trong lịch sử nước ta, công cuộc xây dựng đô thị từng có một quá khứ vàng son rực rỡ. Những gì còn sót lại trong gia tài kiến trúc đô thị của cha ông rải rác trong các công trình kiến trúc cổ: đình, chùa, đền, tháp v.v… vẫn hàm chứa một nền văn minh đô thị Việt Nam giàu bản sắc, thân thiện với thiên nhiên, với môi trường và rất giàu tính nghệ thuật. Việc UNESCO công nhận Huế và Hội An là những di sản kiến trúc đô thị của nhân loại là một bằng chứng có tính thuyết phục.
Người Việt Nam đã từng xây dựng trên đất nước mình một hệ thống đô thị hết sức phát triển: kinh đô Thăng Long cùng Phố Hiến ở phía Bắc, những đô thị “trên bến dưới thuyền” như kinh thành Phú Xuân hay đô thị Hội An ở phía Nam và dấu tích của nhiều đô thị khác nữa trên cả hai miền là những minh chứng cho một thời phát triển rực rỡ ấy.
Công cuộc xây dựng đô thị của nước ta gián đoạn trong một thời gian quá dài, kể từ khi đánh mất nền độc lập, tự chủ vào tay người Pháp cuối thế kỷ XIX.
Sau tháng 8/1945, chúng ta lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh lâu dài để giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Ngành quy hoạch đô thị non trẻ của chúng ta ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt này, là xây dựng đô thị trong một đất nước có chiến tranh. Các đô thị miền Bắc tiến hành cải tạo và xây dựng với tiềm lực kinh tế của một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh và đang phải dốc sức chi viện cho tiền tuyến. Ở miền Nam, các đô thị bảo tồn trong dáng dấp của hệ thống đô thị còn lại từ thời Pháp thuộc, thêm bớt, xen cấy một số công trình mang kiểu dáng phương Tây. Về hệ thống đô thị, cả hai miền vẫn không đủ điều kiện cần thiết để tạo dựng cho đất nước một bộ mặt đô thị mới.
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay, công cuộc xây dựng đô thị ở nước ta mới bước vào cuộc thử sức thực sự với rất nhiều lúng túng trong việc chuyển đổi từ một nền kinh tế – kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự lúng túng đó phản ánh rất rõ trong việc hình thành bộ mặt đô thị. Rất nhiều khu công nghiệp mọc lên nhưng không có khu công nhân.
Hà Nội, TP.HCM – hai thành phố lớn nhất nước – không đủ sức thoát ra khỏi chiếc áo đã quá chật. Các kiến trúc cao tầng tranh thủ xen cấy vào một hệ thống giao thông đô thị đã quá nhỏ hẹp, chật chội làm tăng cao mật độ cư trú dẫn đến ùn tắc giao thông. Nhiều năm tháng đã đi qua nhưng bộ mặt trung tâm của hai thành phố này vẫn là những trung tâm cũ được xen cấy một số kiến trúc cao tầng giàu tính ngẫu nhiên, không nghiên cứu trước.
Bộ mặt kiến trúc đô thị lộn xộn; hệ thống kỹ thuật hạ tầng tùy tiện, chắp vá; cảnh quan thiên nhiên bị biến dạng, hệ thống cây xanh không được quan tâm thỏa đáng và thiếu hụt trầm trọng; hệ thống các công trình phúc lợi xã hội còn nhiều bất cập. Việc quản lý đô thị lại còn rối hơn. Chỉ với một con đường cũng chia nhỏ ra cho nhiều cơ quan thuộc nhiều ngành phụ trách.
Quá trình đô thị hóa đất nước thời gian qua đã bộc lộ rất nhiều non nớt, yếu kém, bất cập, trong đó có ba vấn đề lớn sau đây.
Về bản chất công việc
Quy hoạch đô thị là một khoa học liên ngành rộng lớn và phức tạp. Đối tượng khảo sát, nghiên cứu liên quan đến một vùng tài nguyên to lớn, nhằm tổ chức một cỗ máy sản xuất khổng lồ gồm hàng trăm xí nghiệp công nghiệp, sử dụng hàng vạn lao động, cùng hoạt động đời sống nhiều mặt của một cộng đồng cư dân từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu người.
Quá trình xây dựng và hoạt động đô thị là dài lâu, ảnh hưởng không ít đến môi trường và cảnh trí thiên nhiên. Đô thị còn là một thực thể xã hội rộng lớn, vận động không ngừng với những quy luật đặc thù theo đặc điểm từng địa phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn. Mỗi đô thị là một sản phẩm riêng biệt, không thể trộn lẫn, chắp vá, lắp ghép.
Tổng thể kiến trúc đô thị còn là một công trình nghệ thuật khổng lồ tác động đến mỹ cảm, đến đời sống tinh thần và hình thành tính cách không những từng con người cụ thể mà còn tác động lên tính cách của cả cộng đồng.
Vì vậy, việc nghiên cứu để quy hoạch một đô thị là một quá trình nghiên cứu dày công về nhiều mặt, cần sử dụng một khối lượng tri thức liên ngành rộng rãi với một đội ngũ chuyên viên đông đảo, được đặt dưới sự chỉ đạo của những nhà khoa học có uy tín, với một khối lượng kinh phí đầu tư thỏa đáng và một quỹ thời gian cần và đủ cho công việc.
Thời gian qua, trước sức ép của những bức xúc thực tế, với một quỹ thời gian có phần hạn hẹp, với một lượng kinh phí nghiên cứu còn thấp xa so với yêu cầu, và một chế độ đãi ngộ trên mặt bằng thu nhập bình quân của xã hội, nhiều công trình quy hoạch đã được tiến hành vội vã, chưa đủ độ chín trong tư duy, chưa đủ “tầm” để đề xuất những vấn đề dài hơi, có tính vĩ mô và mang ý nghĩa chiến lược.
Tình hình giao thông đô thị ở TP.HCM và Hà Nội hiện đã đến mức báo động đỏ. Đáng lẽ tất yếu này phải được các nhà quy hoạch dự báo từ xa trong những công trình quy hoạch tổng mặt bằng đô thị nhiều năm trước đây. Nếu làm được như vậy, thì đã khai thác được năng lực của hệ thống giao thông công cộng bằng những loại hình tối tân, do có kế hoạch chuẩn bị từ nhiều năm trước.
Việc thoát nước cũng phải dự báo từ lâu bằng những công trình khoa học nghiêm túc để đề xuất về những biện pháp chuẩn bị từ xa. Còn thực tế thì ngay cả cơ quan quy hoạch TP.HCM vẫn chưa có trong tay bản đồ địa hình đúng chuẩn. Đó chỉ là một, vài trong rất nhiều ví dụ.
Về tổ chức và quản lý nhà nước
Mỗi đô thị là một cơ thể thống nhất trong tương quan nhiều mặt, phải được vận hành một cách nhịp nhàng bởi một bộ máy đủ năng lực và chỉ huy thống nhất. Trong thực tế, chúng ta từng thể nghiệm chế độ kiến trúc sư trưởng, nhưng năng lực cán bộ, hệ thống chính quyền đô thị chưa được xác lập một cách đồng bộ nên hiệu quả chưa được như mong muốn.
Đô thị hiện đang bị chia nhỏ ra nhiều phần, giao cho nhiều ngành quản lý, thực hiện. Chỉ tính riêng một tuyến đường trong thành phố, từ khâu đầu tư đến thực hiện và quản lý đã thuộc quyền không ít cơ quan từ giao thông, điện lực, cấp thoát nước, cây xanh… nay thêm bưu chính viễn thông và tương lai không biết còn những ngành nào tác nghiệp trên trục đường thành phố nữa?
Không một hoạt động nào của con người tác động vào môi trường tự nhiên trầm trọng bằng xây dựng và vận hành đô thị. Rác và nghĩa trang là những vấn nạn lâu dài đối với bất cứ đô thị nào, chưa kể hàng trăm nghìn người, một lượng đông đảo xe cơ giới đủ kích cỡ hoạt động tập trung trên chính không gian đô thị là những vấn đề phải đặt ra với môi trường, cần được nghiên cứu sâu và có hướng xử lý ngay từ khâu đặt bút thiết kế quy hoạch.
Quản lý đất đai hiện càng rối hơn. Giải quyết hậu quả của những “quy hoạch treo”, “quy hoạch quên” hiện lại đang nằm trong tay Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc cấp giấy hồng, giấy đỏ thể hiện sự lúng túng của tổ chức bộ máy nhà nước. Tổ chức chính quyền ba cấp, sao chép mô hình quản lý nông thôn rõ ràng đã không còn thích hợp với một cơ thể năng động như đô thị. Việc tìm kiếm một hình thức tổ chức nghiên cứu, vận hành và quản lý đô thị thích hợp và hàng loạt vấn đề cần được đặt ra như một yêu cầu cấp bách.
Về lực lượng quy hoạch
Lực lượng những người làm công tác quy hoạch đô thị kể cả trung ương lẫn địa phương xem ra còn quá mỏng so với khối lượng công việc. Có rất nhiều tiến sĩ, thạc sĩ nhưng quá ít những con chim đầu đàn. Được nghe trình bày quy hoạch một số đô thị, cảm nhận chung là các đồ án quy hoạch đô thị do những nhóm, tổ công tác khác nhau, căn cứ vào yêu cầu của từng địa phương để đưa ra những giải pháp cục bộ, biệt lập mà không cứu xét đến mối quan hệ vùng, trong một tương quan rộng lớn hơn mà thành phố đó có liên hệ. Kiểu chỉ thấy cây mà không thấy rừng.
Ở đây bộc lộ một thiếu sót nữa của cấp nhà nước, hoặc của bộ chuyên ngành, đó là chậm trễ trong việc tiến hành nghiên cứu quy hoạch vùng lãnh thổ, làm tiền đề, chỗ dựa cho quy hoạch từng đô thị, từng điểm dân cư. Không thể không đề cập đến tình trạng cát cứ, và để đáp ứng yêu cầu này của bên đặt hàng, các nhà quy hoạch dễ dàng “quy hoạch” cho mỗi địa phương một bến cảng, có khi cả một sân bay trong khi những công trình như vậy cần cứu xét cho một vùng hay một cụm liên tỉnh.
Cụm sân bay Trà Nóc, Rạch Giá, Cà Mau, có thể coi là một ví dụ. Để làm được điều này, nhà khoa học phải có sự dũng cảm bên cạnh những kiến thức chuyên ngành vững vàng, sâu rộng để có thể tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo bằng một thái độ chân thành và trung thực.
Những đồ án quy hoạch đã và đang được thực hiện hoàn toàn vắng bóng những nghiên cứu, đề xuất về cộng đồng dân cư đô thị, trong khi chính đối tượng này lại là một nhân tố trọng yếu trong quá trình hình thành và vận hành chính đô thị đó.
homeviet.info – Theo Doanh Nhân Sài Gòn
Khởi công đường cao tốc dài nhất Việt Nam
April 25, 2009 by Vietnam Real Estate
Filed under Thời sự xây dựng

Sáng 25/4, tại xã Kim Long (huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phát lệnh khởi công dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, tuyến đường cao tốc có quy mô và tổng mức đầu tư lớn nhất Việt Nam đến thời điểm này.
Sau khi hoàn thành, dự kiến vào năm 2013, chặng đường từ Hà Nội lên Lào Cai với 264km sẽ mất chừng 3 giờ đồng hồ chạy xe.
Dự án chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 có tổng mức đầu tư 19.984 tỉ đồng (tương đương 1,249 tỷ USD), với chiều dài 245 km.
Vốn thực hiện dự án từ 2 nguồn: vốn vay Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) (1.096 triệu USD, trong đó vay thương mại là 896 triệu USD, vay ưu đãi là 200 triệu USD) và một nguồn do Tổng công ty đường cao tốc VN (VEC) phát hành trái phiếu công trình có bảo lãnh của Chính phủ (153 triệu USD).
Gói thầu A1, 1 trong 8 gói thầu của dự án, được khởi công sáng nay, có chiều dài 26,7km, giá trị hợp đồng trên 2.554 tỷ đồng, do nhà thầu Posco Engineering & Construction Co.,Ltd (Hà Quốc) thi công.
Tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai là dự án đặc biệt quan trọng nằm trong hành lang giao thông Côn Minh – Hải Phòng – Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS), được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận và Bộ Giao thông vận tải (GTVT) phê duyệt quyết định đầu tư. Dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai do VEC làm chủ đầu tư.
Theo tính toán của VEC, toàn tuyến phải thu hồi khoảng 1.885 ha đất và có tới gần 30.000 hộ dân bị ảnh hưởng, trong đó nhiều nhất là địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc với 13.960 hộ, tiếp đến là Phú Thọ với 8.346 hộ, Yên Bái 3.000 hộ. Để di dời số dân này cần lập 94 khu tái định cư. Ngoài ra, tuyến đường còn ảnh hưởng đến 3.500 công trình lớn nhỏ.
Với chiều dài toàn tuyến 264km, đây là tuyến đường cao tốc có chiều dài lớn nhất hiện nay và đi qua địa bàn của 5 tỉnh, TP là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai.
Điểm đầu (km 0) tại nút giao của đường cao tốc Nội Bài – Hạ Long với quốc lộ 2. Điểm cuối (km 264) tại vị trí đấu nối với đường cao tốc Côn Minh – Hà Khẩu tại khu vực xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Đường được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cao tốc TCVN 5729-1997. Vận tốc thiết kế đoạn Hà Nội -Yên Bái tối thiểu 100km/h, đoạn Yên Bái – Lào Cai tối thiểu 80km/h.
Một kỷ lục nữa của dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai là thời gian chuẩn bị dự án rất ngắn. Tính từ lúc VEC tiếp nhận ý tưởng và chủ trương của Chính phủ, Bộ GTVT vào đầu năm 2006 đến thời điểm khởi công chưa đầy 40 tháng. Theo kế hoạch, tuyến đường sẽ hoàn thành vào năm 2013.
Phối cảnh đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai
Phát biểu tại lễ khởi công, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tin tưởng, dự án hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ là động lực, điều kiện thiết thực và quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của các địa phương dọc tuyến đường và cả nước. Đây cũng là dự án đặc biệt quan trọng thuộc hành lang đường bộ Côn Minh – Hải Phòng, nằm trong chương trình hợp tác 6 nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông.
Tuyến đường hoàn thành sẽ kết nối 2 hành lang và 1 vành đai kinh tế trọng điểm của VN – Trung Quốc là: Hành lang Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; hành lang Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội và vành đai duyên hải vịnh Bắc bộ.
Thủ tướng yêu cầu Bộ GTVT và VEC nhanh chóng đồng loạt khởi công 7 gói thầu còn lại để đảm bảo tiến độ nhanh nhất.
VEC được Bộ GTVT giao thực hiện quản lý 7 dự án với khoảng 722km đường cao tốc, trong đó có Dự án Cầu Giẽ – Ninh Bình đang được triển khai thi công, dự kiến hoàn thành năm 2010. Ngoài đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây dự kiến cũng được khởi công trong quý II/2009, với 56km chiều dài và tổng mức đầu tư là 932,4 triệu USD. 4 dự án đường cao tốc lớn khác cũng đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và sẽ được VEC triển khai trong thời gian tới là Nội Bài – Mai Dịch, Hà Nội – Lạng Sơn, Hạ Long – Móng Cái và Bến Lức – Long Thành.
(Theo Chí Hiếu -VietnamNet)
Nghị định 23-2009 ND-CP
April 25, 2009 by admin
Filed under Thời sự xây dựng

Trong quản lý phát triển nhà ở và công sở, các chủ đầu tư không dành quỹ đất trong dự án phát triển nhà ở thương mại để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định, không đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật theo đúng dự án đã được phê duyệt… sẽ bị phạt từ 40 đến 50 triệu đồng.
Đó là một trong những nội dung chính của Nghị định 23/2009-NĐ-CP của Chính phủ vừa ban hành, về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1.5.2009.
Các vi phạm hành chính nói trên, ngoài việc bị phạt tiền còn có thể bị thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề.
Theo Nghị định 23, chủ đầu tư vi phạm về trật tự xây dựng gồm tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng, tổ chức thi công xây dựng sai thiết kế đã được thẩm định, phê duyệt; xây dựng sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với công trình xây dựng được miễn giấy phép xây dựng… sau khi có quyết định đình chỉ thi công của cấp có thẩm quyền mà chủ đầu tư vẫn tái phạm thì tùy theo mức độ vi phạm, quy mô công trình vi phạm, sẽ bị xử phạt từ 300 đến 500 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng (nếu có).
Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản, hành vi bán, cho thuê mua bất động sản thuộc diện phải qua sàn giao dịch bất động sản mà không thông qua sàn giao dịch; kinh doanh các bất động sản không đủ điều kiện hoặc không được phép đưa vào kinh doanh… bị phạt từ 60 đến 70 triệu đồng.
Trong hoạt động xây dựng, chủ đầu tư có các hành vi như tự thực hiện khảo sát xây dựng khi không đủ điều kiện năng lực, không thực hiện giám sát khảo sát xây dựng hoặc không tổ chức nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng sẽ bị phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng.
Trong lĩnh vực khai thác, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, Nghị định quy định phạt tiền từ 40 đến 50 triệu đồng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng không có tiêu chuẩn chất lượng hoặc không đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công bố; kinh doanh vật liệu xây dựng nhập khẩu không có xuất xứ.
Về quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, các tổ chức, cá nhân xây dựng các loại công trình trên bờ, trên mặt nước, dưới mặt nước trong khu vực bảo vệ an toàn nguồn nước mặt, bị phạt từ 30 đến 50 triệu đồng; tự ý đục tuyến ống nước thô hoặc đường ống truyền tải nước, bị phạt từ 60 đến 70 triệu đồng.
Đối với các nhà thầu, nếu vi phạm một trong những hành vi như nghiệm thu khống, tổ chức bàn giao công trình cho chủ sở hữu, sử dụng công trình khi chưa tổ chức nghiệm thu theo quy định, báo cáo tài liệu, số liệu khảo sát không trung thực, không đúng quy định dẫn tới phải điều chỉnh thiết kế 2 lần trở lên… sẽ bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng.
Nghị định cũng quy định, một số hành vi vi phạm còn phải được công bố trên trang tin điện tử của bộ Xây dựng và của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
( Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ)
Download: Nghị định 23-2009 /ND-CP
Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị
January 18, 2009 by Vietnam Real Estate
Filed under Thời sự xây dựng
|
CHÍNH PHỦ Số: 42/2009/NĐ-CP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2009 |
NGHỊ ĐỊNH
_________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh: Nghị định này quy định về việc phân loại đô thị, tổ chức lập, thẩm định đề án và quyết định công nhận loại đô thị.
2. Đối tượng áp dụng: các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến việc phân loại đô thị và phát triển đô thị trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 2. Mục đích phân loại đô thị
Việc phân loại đô thị nhằm:
1. Tổ chức, sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị cả nước.
2. Lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị.
3. Nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững.
4. Xây dựng chính sách và cơ chế quản lý đô thị và phát triển đô thị.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương lai, được đầu tư xây dựng từng bước đạt các tiêu chuẩn của đô thị theo quy định của pháp luật.
2. Dân số đô thị là dân số thuộc ranh giới hành chính của đô thị, bao gồm: nội thành, ngoại thành, nội thị, ngoại thị và thị trấn.
3. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị được xây dựng đồng bộ là khi hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đã được đầu tư xây dựng đạt 70% yêu cầu của đồ án quy hoạch xây dựng theo từng giai đoạn; đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định khác có liên quan.
4. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị được xây dựng hoàn chỉnh là khi hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đã được đầu tư xây dựng đạt yêu cầu của đồ án quy hoạch xây dựng theo từng giai đoạn; đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định khác có liên quan.
5. Đô thị có tính chất đặc thù là những đô thị có những giá trị đặc biệt về di sản văn hoá (vật thể và phi vật thể), lịch sử, thiên nhiên và du lịch đã được công nhận cấp quốc gia và quốc tế.
Điều 4. Phân loại đô thị
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
Điều 5. Điều kiện để công nhận loại cho các đô thị điều chỉnh mở rộng địa giới và đô thị mới.
1. Việc điều chỉnh mở rộng địa giới đô thị phải căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Các khu vực điều chỉnh mở rộng địa giới phải được đầu tư xây dựng đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về phân loại đô thị.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) tổ chức lập đề án điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính đô thị theo quy định hiện hành, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
Việc công nhận loại đô thị được tiến hành sau khi có quyết định điều chỉnh mở rộng địa giới và khi đô thị đó đã đạt được các tiêu chuẩn cơ bản về phân loại đô thị.
2. Đối với khu vực dự kiến hình thành đô thị mới phải có quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và đã được đầu tư xây dựng về cơ bản đạt các tiêu chuẩn phân loại đô thị.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập đề án thành lập đô thị mới theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định này.
Việc công nhận loại đô thị được tiến hành sau khi có quyết định thành lập đô thị mới và khi đô thị đó đã đạt được các tiêu chuẩn cơ bản về phân loại đô thị.
3. Trường hợp đặc biệt theo yêu cầu quản lý lãnh thổ, chủ quyền quốc gia hoặc quản lý phát triển kinh tế – xã hội, việc quyết định cấp quản lý hành chính của một khu vực có thể được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định trước khi khu vực đó được đầu tư xây dựng đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về phân loại đô thị.
Điều 6. Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị
Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm:
1. Chức năng đô thị
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
2. Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;
b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên.
Điều 7. Nguyên tắc đánh giá phân loại đô thị
1. Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I hoặc loại II là thành phố trực thuộc Trung ương: các quận nội thành được xem xét, đánh giá theo tiêu chuẩn của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I hoặc loại II.
Đối với các đô thị thuộc thành phố có vị trí liền kề ranh giới nội thành được quản lý phát triển và đánh giá phân loại đô thị theo tiêu chuẩn của khu vực nội thành.
Đối với các đô thị khác thuộc thành phố được xem xét, đánh giá theo tiêu chuẩn của loại đô thị được xác định bởi quy hoạch chung đô thị và thực trạng phát triển của đô thị đó.
2. Đô thị loại I, loại II, loại III và loại IV thuộc tỉnh: các phường nội thành, nội thị được xem xét, đánh giá theo tiêu chuẩn của đô thị loại I, loại II, loại III và loại IV.
3. Đô thị loại IV và loại V thuộc huyện: các khu phố xây dựng tập trung được xem xét, đánh giá theo tiêu chuẩn của đô thị loại IV và loại V.
4. Khu vực ngoại thành, ngoại thị được đánh giá căn cứ tiêu chuẩn quy định tại điểm b khoản 5 tại các Điều 9, 10, 11, 12, 13 và 14 Nghị định này.
Điều 8. Chương trình phát triển đô thị
Để làm cơ sở cho việc đề nghị phân loại đô thị, Uỷ ban nhân dân các cấp căn cứ các tiêu chuẩn phân loại đô thị được quy định tại Nghị định này lập Chương trình phát triển đô thị, huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng phát triển đô thị. Chương trình phát triển đô thị phải bảo đảm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, diện mạo kiến trúc cảnh quan đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, bền vững và giữ gìn những giá trị tinh hoa, bản sắc văn hoá của mỗi đô thị.
Chương II
TIÊU CHUẨN PHÂN LOẠI ĐÔ THỊ
Điều 9. Đô thị loại đặc biệt
1. Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.
2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên.
3. Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
a) Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ mạng lưới hạ tầng và các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối phục vụ đô thị; hạn chế tối đa việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị. Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc tế và quốc gia.
Điều 10. Đô thị loại I
1. Chức năng đô thị
Đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước.
Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh.
2. Quy mô dân số đô thị
a) Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên;
b) Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành
a) Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên;
b) Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
a) Khu vực nội thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị. Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 50% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị. Phải có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia.
Điều 11. Đô thị loại II
1. Chức năng đô thị
Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh.
Trường hợp đô thị loại II là thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
2. Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên.
Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên 800 nghìn người.
3. Mật độ dân số khu vực nội thành.
Đô thị trực thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương từ 10.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
a) Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: một số mặt được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị. Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị. Phải có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia.
Điều 12. Đô thị loại III
1. Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh.
2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên
3. Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
a) Khu vực nội thành: từng mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: từng mặt được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị. Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa vùng hoặc quốc gia.
Điều 13. Đô thị loại IV
1. Chức năng đô thị.
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hoá, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh.
2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị.
a) Khu vực nội thành: đã hoặc đang được xây dựng từng mặt tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh; các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành từng mặt đang được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Điều 14. Đô thị loại V
1. Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hoá, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện hoặc một cụm xã.
2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ, các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.
Điều 15. Tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị theo vùng miền.
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương.
Điều 16. Tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị có tính chất đặc thù
Các đô thị được xác định là đô thị đặc thù thì tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.
Chương III
LẬP, THẨM ĐỊNH VÀ THẨM QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN LOẠI
ĐÔ THỊ VÀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
Điều 17. Trình tự lập, thẩm định đề án phân loại đô thị và quyết định công nhận loại đô thị
1. Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II trực thuộc Trung ương và đô thị có tính chất đặc thù: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập đề án phân loại đô thị; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Xây dựng tổ chức thẩm định đề án trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
2. Đô thị loại I, loại II thuộc tỉnh: Uỷ ban nhân dân thành phố phối hợp với Sở Xây dựng tổ chức lập đề án phân loại đô thị trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Xây dựng tổ chức thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
3. Đô thị loại III và đô thị loại IV: Uỷ ban nhân dân thành phố, thị xã phối hợp với Sở Xây dựng tổ chức lập đề án phân loại đô thị trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình Bộ Xây dựng.
Bộ Xây dựng xem xét, tổ chức thẩm định và quyết định công nhận đô thị loại III và đô thị loại IV.
Điều 18. Lập, thẩm định và quyết định công nhận đô thị hình thành mới
1. Công nhận loại đô thị mới: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập đề án công nhận loại đô thị mới khi đô thị đó đã được đầu tư xây dựng cơ bản đạt các tiêu chuẩn về phân loại đô thị, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua.
Bộ Xây dựng tổ chức thẩm định và có văn bản chấp thuận để làm cơ sở cho việc lập đề án thành lập đô thị mới trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định loại đô thị của đô thị đó.
2. Công nhận đô thị loại V: Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập đề án phân loại đô thị.
Sở Xây dựng thẩm định để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi xem xét, quyết định.
Điều 19. Lập, phê duyệt Chương trình phát triển đô thị
1. Uỷ ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức lập Chương trình phát triển đô thị, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi quyết định.
2. Uỷ ban nhân dân các thành phố, thị xã thuộc tỉnh tổ chức lập Chương trình phát triển đô thị trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định sau khi được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua.
3. Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập Chương trình phát triển các đô thị và các điểm dân cư có xu hướng đô thị hoá chuẩn bị lên đô thị loại V thuộc phạm vi quản lý hành chính của mình trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định sau khi được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua.
4. Các dự án đầu tư xây dựng phát triển trên địa bàn đô thị phải tuân thủ Chương trình phát triển đô thị đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
Điều 20. Vốn cho công tác phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị.
1. Vốn để thực hiện công tác phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị được sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế từ ngân sách nhà nước giao trong kế hoạch hàng năm cho địa phương.
2. Kinh phí để thực hiện công tác phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị gồm:
a) Khảo sát, thu thập tài liệu phục vụ công tác lập đề án phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị;
b) Lập, thẩm định, phê duyệt đề án phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị;
c) Tổ chức công bố quyết định công nhận loại đô thị.
3. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm lập kế hoạch vốn cho công tác phân loại đô thị, Chương trình phát triển đô thị trong địa giới hành chính do mình quản lý, trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định theo quy định hiện hành.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối ngân sách hàng năm từ nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế cho công tác phân loại đô thị, Chương trình phát triển đô thị của các địa phương theo quy định hiện hành.
Chương IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 21. Xử lý chuyển tiếp
1. Đối với các đô thị đã có quyết định công nhận loại đô thị từ trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì vẫn được giữ nguyên loại đô thị hiện có mà không phải làm thủ tục công nhận lại.
2. Căn cứ tiêu chuẩn phân loại đô thị được quy định tại Nghị định này, Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức rà soát hiện trạng phát triển đô thị, đánh giá những mặt còn tồn tại, lập Chương trình phát triển đô thị, tiếp tục đầu tư xây dựng để đô thị đạt được các tiêu chuẩn phân loại đô thị được quy định tại Nghị định này.
Điều 22. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phân loại đô thị
1. Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ và thống nhất quản lý nhà nước về phân loại đô thị trên phạm vi cả nước.
2. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về phân loại đô thị trong phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý.
Điều 23. Kiểm tra công tác phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị
1. Bộ Xây dựng định kỳ hàng năm kiểm tra tình hình phân loại đô thị của các đô thị trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính định kỳ hàng năm kiểm tra tình hình thực hiện Chương trình phát triển đô thị trong phạm vi cả nước.
Điều 24. Báo cáo công tác phân loại đô thị và Chương trình phát triển đô thị
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:
1. Báo cáo Bộ Xây dựng về tình hình phân loại đô thị của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo định kỳ hàng năm và kết thúc kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm.
2. Báo cáo Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính về tình hình thực hiện Chương trình phát triển đô thị của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo định kỳ hàng năm và kết thúc kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm.
Điều 25. Hiệu lực thi hành
Nghị định này thay thế Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 7 năm 2009.
Điều 26. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ Xây dựng phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Toà án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - UB Giám sát tài chính Quốc gia; - Ngân hàng Chính sách Xã hội; - Ngân hàng Phát triển Việt Nam; - UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, KTN (5b). |
TM. CHÍNH PHỦ
Nguyễn Tấn Dũng |

